Những bài báo tác động mạnh mẽ đến dư luận và truyền thông thế giới

Đăng bởi : Nam Du . Ngày : 2021-06-05 17:35:35
 

(ceotoancau.vn) Những bài báo tác động mạnh mẽ đến dư luận và truyền thông thế giới

Hồ Chí Minh và những bài báo lên án chế độ thực dân

Không chỉ là người khai sinh ra nền báo chí Cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh còn là nhà báo tài năng, tâm huyết.

Ngay từ giai đoạn đầu hoạt động Cách mạng, tìm đường cứu nước đến những năm 1930 của thế kỷ XX, xuất hiện những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc trên một số tờ báo và diễn đàn quốc tế ở nhiều nước. Các bài báo trong giai đoạn này tập trung vào hai chủ đề là tố cáo và lên án Chủ nghĩa thực dân Pháp được đăng tải trên các tờ báo “Le Paria” “L’Humanité”, “La Vie Ouvriére”, tập san “Imprekor” và một số ấn phẩm khác trong khoảng thời gian Người hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc. “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản lầu đầu tiên tại Pa-ri năm 1925 là một trong những tác phẩm báo chí nổi bật, gây tiếng vang trong thời kỳ này. Trong đó, tác phẩm “Đường Cách mệnh” tập hợp những bài viết của Người cho các lớp học chính trị tại Quảng Châu, Trung Quốc, cuốn sách có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây là những bài học về Cách mạng, về vai trò lãnh đạo của Đảng, về con đường giải phóng dân tộc, con đường xây dựng đất nước đi tới độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc. Với việc sáng lập, tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí Hội” sau đó ra báo “Thanh Niên” ra số 01 vào ngày 21/6/1925 - “Ngày Báo chí Cách mạng” của chúng ta ngày nay.

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thời kỳ hoạt động đầy gian nan và nguy hiểm của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Dấu ấn báo chí nổi bật nhất trong thời kỳ này của Người là việc thành lập Mặt trận Việt Minh và cho xuất bản tờ báo "Việt Nam độc lập" để phục vụ công tác Mặt trận. Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước, phát triển cơ sở cách mạng ở Cao Bằng và triệu tập Hội nghị BCH Trung ương Đảng vào tháng 5/1941, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, phát động phong trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi có thời cơ. Ngoài những bài thông tin, chính luận, Nguyễn Ái Quốc còn viết nhiều bài đăng trên báo “Việt Nam độc lập” nhằm động viên cổ vũ các tầng lớp, lứa tuổi, toàn thể đồng bào đứng lên đoàn kết đấu tranh, cứu nước, cứu nhà. “Việt Nam độc lập” thổi kèn loa/ Kêu gọi nhân dân trẻ lẫn già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta!” Bài thơ này đặt dưới bức tranh cổ động cho báo Việt Nam độc lập do Nguyễn Ái Quốc vẽ, in trên báo Việt Nam độc lập số 103, ngày 21-8-1941.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhiều tác phẩm báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký những bút danh khác nhau với nhiều thể loại khác nhau, bám sát từng ngày, từng giờ thực tế sinh động, hào hùng của những thời khắc chính quyền cách mạng non trẻ ở thế “ngàn cân treo sợi tóc” và cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Hàng trăm bài báo của Người, đồng thời cũng là sự chỉ đạo rất kịp thời, sâu sắc với chính quyền cách mạng các cấp còn non trẻ, cảnh báo nguy cơ của một đảng cách mạng sau khi giành chính quyền. Trên các báo “Sự thật”, “Cứu quốc”, “Vệ quốc quân”, “Tập san Sinh hoạt nội bộ” đăng những bài báo nóng hổi tính thời sự như: “Cách tổ chức các ủy ban nhân dân”; “Chính phủ là công bộc của dân”  “Thiếu óc tổ chức, một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”;  “Sao cho hợp lòng dân”; “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”  “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”; “Giữ bí mật”; “Dân vận”; “Tự phê bình”; “Chống quan liêu, tham ô, lãnh phí”; “Sửa đổi lối làm việc” ;“Cần kiệm liêm chính”... Rất nhiều nội dung trong các bài báo còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, vẫn nóng hổi tính thời sự.

Từ sau hòa bình lập lại ở miền Bắc đến trước lúc “đi xa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hàng trăm bài báo đăng trên các báo, tạp chí trong nước. Người dành sự quan tâm đặc biệt cho những vấn đề cấp thiết trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Chỉ riêng việc trồng cây, Hồ Chí Minh đã có sáu bài báo đăng trên báo Nhân dân thể hiện sự quan tâm rất sớm, tầm nhìn xa trông rộng của Người trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Nhiều bài viết của Người đề cập những vấn đề rất cụ thể hoặc có tính thời vụ, thời sự như chống hạn, chống bão lụt, giữ đề điều, phòng chống bão lụt. Đó là những bài báo có ý nghĩa chỉ đạo đối với cơ sở, vừa động viên nhân dân trong việc giải quyết những yêu cầu cụ thể, tổ chức thực hiện những nhiệm vụ cấp thiết trong sản xuất nông nghiệp và tổ chức đời sống xã hội.

Một lĩnh vực được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân và giáo dục cán bộ, đảng viên. Một loạt bài báo của Hồ Chí Minh đề cập những vấn đề có tính nguyên tắc về Đảng, chính quyền nhân dân, về yêu cầu giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, biểu dương những tấm gương tốt, những biểu hiện tích cực, phê phán những sai lầm, khuyết điểm của các cơ quan, tổ chức cũng như các cá nhân. Tác phẩm “Đạo đức Cách mạng” đăng trên tạp chí Học tập, số 12 năm 1958, có vị trí đặc biệt. Đây là một bài viết có tính tổng kết lý luận, trình bày các khía cạnh nội dung, biểu hiện của vấn đề đạo đức Cách mạng một cách có hệ thống. Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng là yêu cầu tất yếu của người Cách mạng; không có đạo đức cách mạng, người Cách mạng không thể hoàn thành được những nhiệm vụ nặng nề của một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ; đạo đức cách mạng “không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Đạo đức Cách mạng của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền là một vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm.

Chủ đề lớn thứ hai đấu tranh chống Mỹ cứu nước được Hồ Chí Minh thể hiện chủ yếu bằng thể loại tiểu phẩm. Các tiểu phẩm báo chí của Hồ Chí Minh thời kỳ này bám sát từng bước đi, từng thất bại của đế quốc Mỹ trên con đường tăm tối chống phá các lực lượng cách mạng dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Ngòi bút sắc sảo, góc nhìn tinh tường của Người luôn phát hiện được những sự kiện, hiện tượng thể hiện đúng bản chất, dã tâm của kẻ thù để ra đòn với tiếng cười châm biếm, tố cáo, vạch mặt chúng. Bắt đầu từ dịp sinh nhật 19/5/1965, Hồ Chí Minh chuẩn bị một “bài báo” Cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân ta và các thế hệ mai sau. Đó là bản “Di chúc” lịch sử. Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên T.L đăng trên báo Nhân dân ngày 1 tháng 6 năm 1969, nhãn đề “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng”. Người đánh giá cao sự phấn đấu trong học tập, lao động và tham gia chiến đấu của thiếu niên, nhi đồng. Người dành cho thế hệ trẻ của đất nước những tình cảm sâu sắc, thái độ trách nhiệm cao. Kết thúc bài báo Người viết: “Vì tương lai của các con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Nick Út và bức ảnh định mệnh “Em bé Napalm”

Phóng viên hãng thông tấn AP cầm trên tay bức ảnh “Em bé Napalm” - bức ảnh đã làm thay đổi cuộc đời ông.

Bức ảnh "Em bé Napalm" chụp bé gái Kim Phúc chín tuổi đang kêu khóc, thân thể không mảnh vải, bị bỏng nặng đang chạy trong khói lửa Napalm ở Trảng Bàng (Tây Ninh) ngày 08/6/1972 đã làm nên tên tuổi Nick Út - phóng viên ảnh người Mỹ gốc Việt của hãng thông tấn AP.

Có mặt tại thời điểm khốc liệt ấy, bắt được khoảnh khắc đau thương ấy để ngay hôm sau bức ảnh "Em bé Napalm" của Nick Út đã được đăng trên trang bìa của tờ Los Angeles Time. Và “Em bé Napalm” trở thành câu chuyện ảnh đau thương không chỉ về một cô bé, một làng nhỏ yên bình dưới bom đạn mà là một hình ảnh biểu tượng tàn khốc của chiến tranh Việt Nam. Đó là một trong những “chân dung” ám ảnh nhất, góp phần thay đổi cái nhìn của thế giới về chiến tranh Việt Nam, lay động bao trái tim người yêu chuộng hòa bình trên thế giới, cùng với phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam càng mạnh mẽ đã tác động lớn đến chính sách của Mỹ và góp phần chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Bức ảnh ấy đã được đăng trên hàng nghìn tờ báo và được nhắc đi nhắc lại vài chục năm sau mỗi khi người ta lần giở lại lịch sử, xem xét và rút ra bài học từ cuộc chiến tranh đau thương này.

Bức ảnh “Em bé Napalm” là chứng nhân lịch sử cho tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

"Em bé Napalm" đã đoạt các giải thưởng lớn: Ảnh báo chí thế giới (World press photo) 1972, Pulitzer - giải thưởng báo chí danh giá nhất của Mỹ năm 1973, giải Lucie Award (tôn vinh những bậc thầy về ảnh báo chí thế giới) năm 2014, giải Thành tựu trọn đời Quinn - được trao bởi Câu lạc bộ ảnh báo chí Los Angeles vào ngày 26-6-2016 tại Mỹ, cũng là dịp kỷ niệm 50 năm Nick Út làm việc cho hãng thông tấn AP. Đây là tác phẩm ảnh báo chí đoạt giải hiếm hoi được tôn vinh “mãi về sau”, đưa Nick Út trở thành một tên tuổi lừng danh trong làng ảnh báo chí thế giới.

“Gần 50 năm làm việc cho AP, chỉ với bức ảnh này tôi đã đón nhận nhiều vinh dự, được đồng nghiệp quý trọng, được rất nhiều người biết đến. Nói về ảnh chiến tranh Việt Nam, người ta luôn nhắc đến bức ảnh Kim Phúc. Nói về Kim Phúc, người ta nhớ đến Nick Út. Trong số 100 tấm ảnh được ghi vào lịch sử thế kỷ 20 do Trường đại học Columbia bình chọn, bức ảnh Kim Phúc được xếp thứ 41” - nhà báo Nick Út chia sẻ với tôi. Chiếc máy ảnh Leica anh chụp Em bé Napalm năm 1972 ấy hiện được trưng bày tại Bảo tàng Hoàng gia Anh.

Không đơn giản chỉ là có mặt và cơ may nắm bắt được khoảnh khắc vàng để có được bức ảnh nổi tiếng ấy, các đồng nghiệp của Nick Út đã chụp được loạt ảnh anh vừa chụp vừa dội nước lên người Kim Phúc, cứu giúp, đưa Kim Phúc và những đứa trẻ bị thương khác vào bệnh viện gần đó và Bệnh viện Barksy ở Sài Gòn. Sau 14 tháng điều trị và trải qua 17 cuộc phẫu thuật, Kim Phúc - em bé Napalm đã sống sót diệu kỳ, dù trước đó ngay các bác sĩ cứu chữa cũng không dám tin em sẽ sống được. Cuộc “gặp gỡ” trong hoàn cảnh khắc nghiệt không chỉ tạo nên bức ảnh nổi tiếng, nó còn là cột mốc bắt đầu tình anh em, sự gắn bó định mệnh giữa tác giả và nhân vật ảnh. Hiện nay chị Kim Phúc định cư ở Canada cùng chồng và hai con. Nick Út và Kim Phúc vẫn gặp nhau, mỗi khi cả hai có dịp đến Mỹ hoặc Canada hay cùng tham dự các sự kiện, hội thảo, triển lãm có liên quan đến câu chuyện ảnh nổi tiếng 49 năm trước.

Kevin Carter và bức ảnh "Kền kền chờ đợi"

Bức ảnh “Kền kền chờ đơi” của Kevin Carter đoạt giải Pulitzer - giải thưởng danh giá về nhiếp ảnh báo chí.

Nạn đói ở châu Phi luôn là nỗi ám ảnh với toàn nhân loại và có một bức ảnh gần như lột tả được hết những đau đớn đó chính là bức “kền kền chờ đợi” của nhiếp ảnh gia Kevin Carter, chụp tại Sudan vào 3/1993. Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc em bé đói khát đang lê lết trên nền đất và đằng sau là con kền kền đang chực chờ em gục xuống để xông lên... rỉa xác.

Ngay sau khi được đăng tải trên tạp chí New York Times vào ngày 26/3/1993, bức ảnh đã gây chấn động toàn thế giới. Sau đó 1 năm, Kevin Carter vinh dự nhận được giải thưởng nhiếp ảnh Pulitzer danh giá.

Nhờ giải thưởng Pulitzer, Kevin đã có những giây phút hạnh phúc nhất cuộc đời đồng thời trở thành thượng khách của tất cả những nơi ông đặt chân tới ở thành phố New York (Mỹ). Từ các nhà hàng, các tờ báo lớn tới khách qua đường đều muốn kết giao, phỏng vấn, mời làm việc và xin chữ ký của Kevin Carter.

Tuy nhiên, khi bức ảnh “kền kền chờ đợi” trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới cũng là lúc có vô số lời chỉ trích dội về tác giả. Tất cả các ý kiến phản bác, kể cả những người bạn của Kevin đều tự hỏi tại sao anh lại chỉ chụp ảnh thay vì giúp đỡ em bé ấy. Kevin tất nhiên sau đó đã phải chịu đựng chuỗi áp lực không thể gồng mình lên nổi.

Đỉnh điểm của bi kịch cuộc đời đã tìm đến Kevin chỉ 3 tháng sau khi nhận giải, anh tự sát bằng độc khí carbon monoxide trên một chiếc xe hơi đỏ đậu kề một con sông nhỏ ở tuổi 33. Nhiếp ảnh gia nổi tiếng để lại lời nhắn trên băng ghế xe: “Tôi thực sự xin lỗi. Những đau đớn của cuộc sống đã đè nén tới mức mà niềm vui không còn có thể tồn tại”.

Kevin sinh ra ở Cộng hòa Nam Phi, nơi nạn phân biệt chủng tộc đã đẩy những người da đen vào hoàn cảnh khốn cùng. Anh đã từng nhắc đến quê hương của mình như một nơi khô cằn, ảm đạm, lạnh lẽo, chết chóc, và đầy những ký ức tồi tệ. Anh trở thành nhiếp ảnh gia như một sứ mệnh dám dấn thân vào những khu vực đang xảy ra xung đột, không ngần ngại đối mặt với nguy hiểm để cho cả thế giới thấy được sự thật tàn khốc của chiến tranh và bạo lực.

Nhưng chính điều đó lại để lại trong lòng người nhiếp ảnh nhiều ký ức kinh hoàng. Một người bạn của anh cho biết Kevin luôn cảm thấy tội lỗi khi không thể cứu giúp những người khốn cùng, trong khi ông phải chụp ảnh họ mà họ thì đang bị giết hại. Việc lặp lại những thao tác và cảm xúc ấy hàng ngày khiến cho Kevin rơi vào trạng thái trầm cảm nặng và buộc phải tìm đến cocaine và ma túy.

Như vậy, Kevin không hề dửng dưng, lãnh đạm và vô tình khi chụp bức ảnh con kền kền và em bé giống như những lời kết tội, thậm chí, có những giọt nước mắt đã rơi. Anh đã ghi lại trong nhật ký của mình rằng hi vọng bức ảnh sẽ khiến sự nhạy cảm của bản thân mỗi người được nâng cao hơn và không bao giờ được coi thường mọi thứ xung quanh.

Nhiếp ảnh mang lại cho Kevin Carter vinh quang, nhưng cũng đẩy ông đến sự tuyệt vọng, day dứt.

Thực tế, nếu nhiếp ảnh gia không nhanh chóng ghi lại hình ảnh này, sẽ chẳng bao giờ nhân loại biết tới một thực tế kinh hoàng của sự đói khát, tuyệt vọng ở lục địa đen. Nhưng vinh quang của giải thưởng Pulitzer đã khiến một nhiếp ảnh gia tài năng phải tự tìm đến cái chết. Và người ta đã ví truyền thông giống như một con kền kền đang chờ đợi để rỉa xác Kevin Carter, một đứa trẻ một mình, một mình thực sự trên thế giới.

Nam Du tổng hợp

TIN CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN

QUẢNG CÁO

qc-chanweb
addRight